Bản Để In

10 năm Luật Cạnh tranh, một câu hỏi chưa được trả lời

(Chinhphu.vn) - Mặc dù Luật Cạnh tranh có hiệu lực từ năm 2005, nhưng đến thời điểm này, nhiều doanh nghiệp cũng như luật sư vẫn loay hoay không biết phải áp dụng một số quy định trong luật này như thế nào trong nhiều trường hợp cụ thể.

11/13/2015 07:56
Vụ kiện giữa Jetstar và Vinapco là vụ kiện đầu tiên được Hội đồng Cạnh tranh Quốc gia đưa ra giải quyết về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo Luật Cạnh tranh

Tại hội thảo đánh giá 10 năm thực thi Luật Cạnh tranh góc nhìn từ phía doanh nghiệp” do Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) tổ chức hôm 12/11 tại TPHCM, ông Trương Văn Toàn, Giám đốc Đối ngoại và Pháp lý của Công ty TNHH Friesland Campina, cho rằng kể từ khi có Luật Cạnh tranh, hệ thống pháp luật của Việt Nam cũng hoàn thiện hơn, góp phần giúp doanh nghiệp hoạt động, cạnh tranh bình đẳng.

Tuy nhiên, theo ông Toàn, có một câu hỏi mà 10 năm qua doanh nghiệp không có câu trả lời. Đó là xác định thị phần như thế nào. Theo quy định, thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hoá, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan.

Hiện ở thị trường Việt Nam, Friesland Campina có bốn nhãn hiệu chính (Dutch Lady, Friso, Yomost, và Fristi), nhưng có đến hơn 100 sản phẩm. Do đó khi có một sản phẩm cụ thể nào đó trong hơn 100 sản phẩm này cần xác định thị phần theo quy định của Luật Cạnh tranh, doanh nghiệp không rõ việc xác định thị phần sản phẩm đó dựa trên tiêu chí nào; hay cơ quan nào có chức năng, uy tín để đứng ra xác định thị phần cho doanh nghiệp.

Ngoài ra, ngày càng có nhiều đối thủ mới tham gia vào thị trường, nên thị phần của doanh nghiệp hiện hữu lâu nay chắc chắn bị ảnh hưởng, vậy thị phần nên xác định theo năm hay quý, tháng?

Cũng liên quan đến xác định thị phần, ông Lê Quang Vy, Giám đốc công ty luật TNHH Việt Long Thăng, cho biết có một số vướng mắc cơ bản mà các khách hàng doanh nghiệp của công ty ông đang lúng túng, trong đó có việc xác định thị trường sản phẩm liên quan (trong xác định thị phần).

Mặc dù Nghị định 116 (hướng dẫn Luật Cạnh tranh) dành hẳn một chương xác định thị trường liên quan, nhưng các nguồn thông tin để xác định thị trường sản phẩm liên quan thể hiện trong văn bản luật còn hiếm, không được công khai một cách chính thống khiến doanh nghiệp lúng túng khi cần thu thập thông tin. Việc xác định thị trường sản phẩm liên quan càng phức tạp đối với trường hợp doanh nghiệp cung cấp sản phẩm là một chuỗi các dịch vụ nối tiếp như dịch vụ du lịch (gồm ăn ở, vận chuyển, tham quan,…)

Theo bà Trần Chi Anh, Luật sư tại Công ty Luật TNHH Baker & McKenzie Việt Nam, yếu tố thị phần có vai trò quyết định trong việc xác định doanh nghiệp có vi phạm luật cạnh tranh hay không. Việc xác định tất cả các hành vi vi phạm về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, tập trung kinh tế,…. đều yêu cầu phải xác định thị phần. Tuy nhiên, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc xác định thị phần.

Do đó, theo bà Chi Anh, mọi người có liên quan nên đồng ý với nhau là không có cách thức nào chính xác tuyệt đối để xác định thị phần. Do đó, luật nên xem thị phần chỉ là một trong các yếu tố chứ không mang tính quyết định để xác định hành vi của doanh nghiệp là có gây hại đến cạnh tranh hay không.

Theo đề xuất của bà Chi Anh, cơ quan nhà nước nên dựa vào những cấu phần khác nữa, quan trọng là xác định hệ quả tác động đến thị trường, có ủng hộ cạnh tranh hay hạn chế cạnh tranh.

Theo vị luật sư này, nhược điểm lớn nhất của Luật Cạnh tranh là hướng tiếp cận về hình thức, chứ không phải bản chất. Sứ mệnh của Luật Cạnh tranh là bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, nhưng nếu chỉ tiếp cận về hình thức, mà bỏ qua việc xem xét yếu tố chứng minh gây hại cho môi trường cạnh tranh, người tiêu dùng, thì luật khó bao quát được tất cả hành vi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Cũng tại hội thảo, ông Trần Võ Quốc Sơn, Giám đốc tư vấn pháp luật Công ty TNHH quốc tế Unilever Việt Nam, nêu một thực trạng khác. Theo Luật Cạnh tranh, khi thực hiện các hành vi tập trung kinh tế (như sáp nhập, hợp nhất, liên doanh, mua lại doanh nghiệp khác), các doanh nghiệp tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% phải thông báo với Cục Quản lý cạnh tranh.

Theo ông Sơn, sau khi thực hiện việc thông báo này, doanh nghiệp vẫn có nguy cơ bị cơ quan nhà nước từ chối không chấp thuận cho việc mua lại doanh nghiệp khác. Do đó, công ty có thể thực hiện việc mua thương hiệu, nếu vậy thì luật cạnh tranh quy định việc này ra sao, doanh nghiệp có vi phạm Luật Cạnh tranh hay không?

Ông Sơn cũng cho rằng, cơ quan nhà nước nên tính đến hệ quả, tác động của việc tập trung kinh tế là có đem lại lợi ích cho người tiêu dùng, hay có cản trở cạnh tranh hay không, thay vì chỉ quan tâm đến thị phần 30%, 50%.

T.Thu

Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn