Bản Để In

Bộ NNPTNT: Không thay đổi tiêu chuẩn cá tra

(Chinhphu.vn) – Bộ NN&PTNT cho rằng việc không kiểm soát chất lượng và để tự doanh nghiệp kê khai như trước đây đã dẫn đến “khủng hoảng” trong ngành cá tra như thời gian qua.

01/15/2015 10:26

Mới đây, để tháo gỡ khó khăn trước mắt cho doanh nghiệp, Bộ NN&PTNT đã đề xuất và được Chính phủ đồng ý chưa thực hiện các quy định tại Nghị định số 36/2014/NĐ-CP về hàm lượng nước không quá 83%, tỷ lệ mạ băng không quá 10% trong cá tra phi lê xuất khẩu.

Tuy nhiên, ý kiến không ít doanh nghiệp và Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) lại cho rằng “lùi thời hạn chưa giải quyết được vấn đề”. Vasep kiên trì đề nghị sửa đổi quy định nói trên, cho doanh nghiệp dán nhãn sản phẩm ghi rõ về hàm lượng, công khai thông tin về chất lượng sản phẩm và phải chịu trách nhiệm với thông tin đó.

Ngày 13/1, Bộ NN&PTNT đã có văn bản trả lời tỉnh An Giang và các tỉnh ĐBSCL có nuôi cá tra xung quanh kiến nghị nói trên.

Có cơ sở khoa học và thực tiễn

Về quy định tỷ lệ mạ băng, Bộ NN&PTNT lý giải: Nghị định yêu cầu tỷ lệ mạ băng phù hợp với quy định của các nước nhập khẩu. Còn trường hợp các nước nhập khẩu không quy định thì Nghị định yêu cầu không vượt quá 10%. Như vậy, không phải mọi trường hợp đều là 10%.

Văn bản do Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám ký nói mục đích công nghệ của việc mạ băng là để bảo vệ sản phẩm giảm thiểu khả năng mất nước (cháy lạnh) gây suy giảm chất lượng sản phẩm trong quá trình bảo quản đông lạnh.

Theo hướng dẫn của Ủy ban Thực phẩm quốc tế (CODEX), tỷ lệ mạ băng để đạt mục tiêu công nghệ thường không quá 5%. Do đó, quy định tỷ lệ mạ băng không vượt quá 10% tại Nghị định 36 là cần thiết, phù hợp và linh hoạt cho các doanh nghiệp trong chế biến sản phẩm cá tra phi lê đông lạnh chất lượng tốt để xuất khẩu và ngăn vừa gian lận thương mại.

Về quy định hàm lượng nước tối đa cho phép 83%, trước kiến nghị của các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, để làm rõ cơ sở khoa học, Bộ NN&PTNT đã chỉ đạo Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản nghiên cứu về hàm lượng nước trong cá tra phi lê đông lạnh (tiếp theo đề tài đã thực hiện năm 2008).

Đề tài nghiên cứu bổ sung kết thúc vào tháng 12/2004 cho thấy, hàm lượng nước tự nhiên trong phi lê cá tra chưa qua chế biến là 79.70 ± 0.34%; không phát hiện việc lạm dụng chất kích thích tăng trưởng để tích nước trong cá tại công đoạn nuôi.

Việc sử dụng phụ gia nhóm phosphate là được phép theo quy định của CODEX để cải thiện chất lượng cảm quan, chống mất nước sau rã đông. Tuy nhiên, sử dụng phụ gia vừa đủ (tương ứng với hàm lượng nước là 83% và tỷ lệ tăng trọng là 15%) là đã đạt được mục đích cải thiện chất lượng cảm quan, chống mất nước sau rã đông.

Nếu lạm dụng phụ gia đến hàm lượng nước là 85% - 86% thì tỷ lệ tăng trọng sẽ tương ứng từ 35% đến hơn 40%, có thể bị coi là gian lận thương mại, làm suy giảm chất lượng sản phẩm cá tra phi lê, bán giá thành thấp và dẫn đến nguy cơ cá tra Việt Nam bị cáo buộc, áp thuế chống bán phá giá tại các thị trường. Chấp nhận điều này tương tự việc chấp nhận bơm tạp chất vào tôm và bơm nước vào gia súc trước khi giết mổ.

Như vậy, quy định tỷ lệ mạ băng tối đa không quá 10% và hàm lượng nước tối đa trong cá tra phi lê đông lạnh không quá 83% (tương ứng với mức tăng trọng là 15%) là có đủ độ tin cậy, cơ sở khoa học, và thực tiễn để từng bước nâng cao chất lượng, giá trị và đảm bảo phát triển bền vững sản phẩm cá tra Việt Nam.

Tồn kho 150 nghìn tấn cá tra

Đến hết ngày 20/12/2014, theo báo cáo của các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cá tra vẫn còn một lượng lớn sản phẩm chưa đáp ứng quy định của Nghị định 36 về tỷ lệ mạ băng, hàm lượng nước tối đa. Theo con số tự kê khai của các doanh nghiệp thì hàng tồn kho là trên 360 nghìn tấn, nhưng sau khi Bộ tổ chức 11 đoàn kiểm tra thực tế cuối tháng 12/2014 thì lượng hàng tồn là khoảng 150 nghìn tấn.

Theo nhận định của Bộ NN&PTNT, hiện nay, việc xuất khẩu thủy sản của Việt Nam chủ yếu qua các doanh nghiệp nhập khẩu, chứ không trực tiếp đến hệ thống bán lẻ, nên sự thay đổi này (nâng chất lượng nhưng làm tăng giá thành sản phẩm) ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà nhập khẩu nước ngoài và cả doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.

Điều này cũng lý giải vì sao các nhà nhập khẩu nước ngoài và doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam phản ứng quyết liệt và không muốn thay đổi. Việc không kiểm soát chất lượng và để tự doanh nghiệp kê khai đã diễn ra trước khi có Nghị định 36 và hậu quả là dẫn đến “khủng hoảng”  trong ngành cá tra như thời gian qua.

Văn bản trả lời những kiến nghị xung quanh Nghị định 36 của Bộ NN&PTNT cũng ghi rõ: “Rất mong nhận được sự thấu hiểu và hợp tác tích cực của Ban thường vụ Tỉnh ủy An Giang và UBND các tỉnh ĐBSCL có nuôi cá tra”.

Hiện, Bộ NN&PTNT đã phối hợp với Bộ Công Thương, Hiệp hội Cá tra Việt Nam, Vasep để trao đổi kế hoạch triển khai thực hiện quy định trên của Nghị định 36.

Đỗ Hương