chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam
Diễn đàn cạnh tranh Quốc gia
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng đã trả lời về vấn đề này. Trong bài viết này tôi chỉ tập trung sâu vào phân tích các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp dẫn đến các yếu kém trong phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ.
Nhìn nhận những yếu kém, hạn chế đó phải xét trong bối cảnh Việt Nam mở cửa, đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung phi thị trường, sản xuất yếu kém, lạc hậu về công nghệ và quản lý doanh nghiệp sang nền kinh tế thị trường.
Nguyên nhân khách quan đầu tiên dẫn đến các yếu kém trong phát triển công nghiệp hỗ trợ là xuất phát điểm của nền kinh tế. Đây là vấn đề mà các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung như Lào, Trung Quốc, các nước Đông Âu ít nhiều đều mắc phải. Ngay cả các quốc gia và vùng lãnh thổ tư bản chủ nghĩa như Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Indonesia trong giai đoạn đầu phát triển công nghiệp cũng vấp phải.
Việc chậm có cơ chế, chính sách phù hợp phát triển công nghiệp hỗ trợ là từ nhận thức vĩ mô của từng quốc gia, đó là hiện tượng phổ biến và Việt Nam không phải là một ngoại lệ. Nếu nghiên cứu sớm kinh nghiệm của một số nước, chúng ta có thể rút ngắn được lộ trình phát triển công nghiệp hỗ trợ và sớm có chính sách, cơ chế phù hợp.
Tuy nhiên, điều đáng bàn là khi đã thấy được tầm quan trọng của công nghiệp hỗ trợ, chúng ta lại mất nhiều năm mầy mò làm riêng lẻ từng ngành, thiếu sự chỉ đạo thống nhất. Chúng ta đã không có sự phối hợp, hợp tác chặt chẽ để xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển công nghiệp hỗ trợ trình Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ.
Đó là lỗi chủ quan. Trách nhiệm này không chỉ của Bộ Công Thương mà của nhiều Bộ ngành như Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ KH&CN, Bộ Tư pháp, Bộ NNPTNT, GTVT. Nhưng Bộ Công Thương có trọng trách trong vấn đề này, vì Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ chuẩn bị các văn bản pháp luật có liên quan.
Lý do khách quan thứ hai, việc phát triển công nghiệp hỗ trợ là lĩnh vực rất khó, cần nhiều vốn, có thời gian hoàn vốn lâu và cần có sự vào cuộc của các nền công nghiệp của các nước phát triển.
Trong lĩnh vực điện tử, viễn thông, việc làm các linh kiện đòi hỏi công nghệ cực kỳ phức tạp. Việt Nam liên danh với hãng nước ngoài để sản xuất đã khó, việc làm một mình còn khó hơn bội phần. Phải có liên doanh sản xuất kiểu như Intel tại TP Hồ Chí Minh.
Vậy công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất vật liệu có làm dễ hơn? Sản xuất hóa chất cơ bản, thép hợp kim, thép công cụ, thép cho đóng tàu cho chế tạo máy không hề dễ, cũng cần vốn lớn và phải có quy mô đủ lớn mới làm nhà máy được.
Chỉ nêu vài dẫn chứng để đủ thấy làm công nghiệp lắp ráp gia công còn dễ, phát triển công nghiệp hỗ trợ khó gấp nhiều lần. Tự làm công nghệ hỗ trợ đạt chuẩn chất lượng để cung cấp trong nước, thay thế nhập khẩu đã khó, làm để xuất khẩu sang các nước còn khó hơn.
Nếu không có chiến lược khôn ngoan, không có cơ chế chính sách khuyến khích và tầm nhìn dài hạn, chúng ta khó có thể tự chủ được phân ngành công nghiệp hỗ trợ.
Chúng ta phải bắt đầu nhanh từ loại vật liệu-linh kiện, vật tư tương đối đơn giản, không đòi hỏi công nghệ quá cao, rồi từng bước đến làm loại có công nghệ phức tạp hơn.
Như vậy, cần có một chiến lược tổng thể, cụ thể, khôn ngoan và cần có sự hợp tác, liên danh với các quốc gia có tiềm năng và sẵn sàng hợp tác cho ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam. Mới đây, kế hoạch hành động nhằm phát triển vượt bậc các ngành công nghiệp được ưu tiên lựa chọn, với sự hỗ trợ của Chính phủ Nhật Bản, đã chính thức được khởi động.
Các ngành ngày được Chiến lược công nghiệp hóa Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam-Nhật Bản lựa chọn. Với các giải pháp rất cụ thể, đây có thể là một hướng đi khả quan cho ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam.
Hiện Bộ Công Thương đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định về phát triển công nghiệp hỗ trợ. Nhưng ngay cả khi có Nghị định và cơ chế chính sách phù hợp thì việc phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ cũng là bài toán khó, phải cần giải trong nhiều năm với sự chỉ đạo sát sao và cơ chế chính sách linh hoạt.
TS. Mai Thanh Hải
Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp FDI