chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam
Diễn đàn cạnh tranh Quốc gia
![]() |
| Ảnh minh họa |
Thực trạng “èo uột” của ngành vận tải biển trong nước đang gây ra nhiều hệ lụy, mà một trong những vấn đề nổi cộm nhất hiện nay là việc các hãng tàu nước ngoài tùy tiện áp nhiều loại phí, lệ phí mới gây khó khăn, làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Trước thực trạng này, tại Nghị quyết số 19/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh, Chính phủ đã đặt nhiệm vụ cần tập trung phát triển các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, logistics, cảng biển, đóng và sửa chữa tàu biển, vận tải biển… Cũng theo yêu cầu của Nghị quyết 19, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang rà soát lại và lấy ý kiến về hệ thống các điều kiện kinh doanh, trong đó có điều kiện kinh doanh ngành vận tải biển.
Theo luật sư Ngô Khắc Lễ, chuyên gia hàng hải, Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), vẫn còn có không ít vấn đề đáng quan tâm trong Nghị định 30/2014/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh vận tải biển và dịch vụ hỗ trợ vận tải biển.
Trước hết, Nghị định có những điểm không cụ thể, có thể dẫn tới cách hiểu tùy tiện của người áp dụng. Chẳng hạn điểm c khoản 2 điều 5 Nghị định quy định doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển phải có bộ phận chuyên trách thực hiện công tác pháp chế. Thế nhưng, theo luật sứ, “công tác pháp chế” là một khái niệm không thật rõ ràng.
Nghị định còn có những quy định mà theo luật sư là “dành thuận lợi cho cơ quan quản lý và đẩy khó cho doanh nghiệp”. Điều 6 quy định về “hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh vận tải biển” đưa ra rất nhiều yêu cầu, trong đó có hồ sơ trích ngang với thời gian kinh nghiệm làm việc, bằng, chứng chỉ… của tất cả những người phụ trách lĩnh vực khai thác tàu biển, phụ trách hệ thống quản lý an toàn, an ninh, phụ trách pháp chế.
“Chưa hết. Theo quy định tại điều 8 về cấp lại Giấy phép kinh doanh vận tải biển, chỉ cần có một thay đổi nhỏ của hồ sơ như tại điều 6 thì doanh nghiệp sẽ phải làm lại thủ tục từ đầu. Có khi doanh nghiệp chỉ thay đổi người thu cước là phải làm lại hết hồ sơ. Điều này quá vô lý, là đẩy khó cho doanh nghiệp”, vị luật sư có nhiều năm kinh nghiệm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực vận tải biển nói.
Những quy định "vênh" với thực tiễn
Đó là chưa kể những yêu cầu mà thực tế cuộc sống cho thấy là bất khả thi. Ví dụ, điều 11 Nghị định 30 quy định về điều kiện duy trì hoạt động kinh doanh dịch vụ đại lý tàu biển yêu cầu “có hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp dịch vụ đại lý tàu biển hoặc có bảo lãnh tài chính tương đương”. Điều kiện về duy trì hoạt động lai dắt tàu biển cũng tương tự.
Ông Lễ khẳng định qua nhiều năm làm nghề nhưng ông chưa từng thấy phát sinh vấn đề nào trong thực tế dẫn tới việc phải có điều kiện như trên.
“Nguyên tắc của bảo hiểm là lấy số đông bù số ít, các hãng bảo hiểm nói có quá ít người mua cái bảo hiểm này, có muốn mua cũng không có người bán. Còn về bảo lãnh thì trong suốt mấy chục năm qua, chúng tôi không hề thấy phát sinh kiện cáo gì tại bất kỳ một đại lý nào, bởi vì bản chất công việc của đại lý là chỉ làm theo yêu cầu của người ủy thác”, ông Lễ nêu sự vênh nhau giữa quy định và thực tiễn.
Còn yêu cầu phải “có hợp đồng đại lý tàu biển đối với từng chuyến tàu cụ thể hoặc trong một thời hạn cụ thể” rất dễ bị các cơ quan như kiểm toán hay thuế gây khó khăn. Bởi trong thực tế, hợp đồng đôi khi chỉ là một cái email xác nhận, nhưng cơ quan thuế hay kiểm toán có thể cứ khăng khăng cho rằng hợp đồng là phải có chữ ký, đóng dấu…
Ngoài ra, theo nhiều chuyên gia, yêu cầu doanh nghiệp phải “có vốn hoặc tài sản khác tối thiểu tương đương 20 tỷ đồng nếu kinh doanh vận tải biển quốc tế và 5 tỷ đồng nếu kinh doanh vận tải biển nội địa” hay yêu cầu yêu cầu “kinh doanh dịch vụ lai dắt tàu biển phải có tối thiểu 2 tàu lai dắt chuyên dụng” cũng không còn phù hợp.
TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nhận xét rằng những quy định kiểu như vậy là một dạng “biến tướng” về vốn pháp định – khái niệm đã được loại bỏ từ năm 1999. Những quy định này đặt ra rào cản khiến các doanh nghiệp nhỏ rất khó “chen chân” vào thị trường.
|
Trong một diễn biến có liên quan, góp ý về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng dự thảo (và cả một số điều khoản không dự kiến sửa đổi trong Bộ luật Hàng hải) hiện có nhiều điều khoản về biện pháp quản lý Nhà nước đối với các chủ thể với nội dung được thiết kế theo hướng: Luật chỉ định nghĩa/giới thiệu sơ qua vấn đề, sau đó ủy quyền toàn bộ cho Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định chi tiết. VCCI cho rằng cách quy định này có thể là phù hợp vào thời điểm xây dựng Bộ luật Hàng hải 2005, khi nhiều vấn đề quản lý còn là mới mẻ và chưa có nhiều kinh nghiệm để đúc kết đưa lên thành Luật, buộc phải để điều chỉnh ở các văn bản pháp luật cấp thấp hơn. Còn trong tình hình hiện nay, “không có lý do gì để Bộ luật hàng hải tiếp tục là bộ luật khung trong nhiều vấn đề như vậy, đặc biệt là những vấn đề quản lý xương sống, thường xuyên và bao trùm, lại liên quan tới những thủ tục hành chính gắn liền với hoạt động kinh doanh như như đăng kiểm, điều kiện kinh doanh cơ sở đóng tàu...”, VCCI đưa quan điểm. VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung các nguyên tắc, trình tự thủ tục chính, các điều kiện cơ bản cho từng biện pháp quản lý ngay tại Luật (tương tự như cách quy định hiện nay tại Bộ luật về đăng ký tàu biển), ít nhất là với các vấn đề có liên quan trực tiếp tới thủ tục cấp phép như đăng ký, đăng kiểm, điều kiện kinh doanh cơ sở đóng tàu, điều kiện kinh doanh khai thác cảng biển… |