Bản Để In

Thêm một dự thảo “giấy phép con”

(Chinhphu.vn) – Dự thảo do Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế xây dựng được đánh giá là chưa phù hợp với Luật Đầu tư và Nghị định 118/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư.

01/27/2016 03:39
Theo các doanh nghiệp, việc quy định thêm các điều kiện đối với các chủ thể trong chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc là không cần thiết.
Hơn nữa, nhiều điều kiện đặt ra trong dự thảo cũng không phù hợp, không cần thiết, mang tính áp đặt với doanh nghiệp.

Cần từ cấp Nghị định trở lên

Cụ thể, Dự thảo Thông tư hướng dẫn hoạt động gia công thuốc và chuyển giao công nghệ trong sản xuất thuốc có các quy định về các điều kiện để được đứng tên là Bên đặt gia công, Bên nhận gia công.

Đây là các "điều kiện kinh doanh không cần giấy phép" theo cách hiểu tại quy định tại điểm g khoản 2 Điều 9 Nghị định 118/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Đầu tư năm 2014. Luật Đầu tư năm 2014 quy định Bộ không được phép quy định về điều kiện kinh doanh (Điều 7), và các điều kiện kinh doanh được ban hành trái thẩm quyền sẽ hết hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016 (khoản 3 Điều 74).

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), việc một văn bản cấp Bộ quy định về điều kiện kinh doanh đối với các bên trong hoạt động gia công là chưa phù hợp về mặt pháp lý theo quy định tại Luật Đầu tư. VCCI đề nghị ban soạn thảo xem xét đến vấn đề này và có thể đề xuất quy định các điều kiện này trong văn bản cấp Nghị định trở lên.

Mới đây, trong báo cáo gửi Chính phủ, Bộ KHĐT cũng cho biết sau khi Luật đầu tư có hiệu lực thi hành, một số Bộ vẫn tiếp tục ban hành, soạn thảo các Thông tư quy định về điều kiện kinh doanh. Theo Bộ KHĐT, đây là điều đặc biệt đáng lưu ý.

Tuy nhiên, Bộ KHĐT cũng cho biết trong quá trình rà soát điều kiện đầu tư kinh doanh đã phát sinh vướng mắc liên quan đến việc áp dụng Luật Đầu tư và các Luật chuyên ngành về thẩm quyền quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh.

Cụ thể là theo quy định tại Điều 7 Luật Đầu tư, điều kiện đầu tư kinh doanh phải được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định. Tuy nhiên, Luật Ban hành văn quy phạm pháp luật 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi năm 2015 (có hiệu lực ngày 01/7/2016) đều quy định: “trong trường hợp văn bản có điều, khoản, điểm mà nội dung liên quan đến quy trình, quy chuẩn kỹ thuật và những nội dung khác cần quy định chi tiết thì ngay tại điều, khoản, điểm đó có thể giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định chi tiết”.

Như vậy, trường hợp Luật chuyên ngành giao thẩm quyền cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quang ngang Bộ ban hành các quy định về điều kiện kinh doanh thì việc ban hành này liệu có trái với quy định của Luật Đầu tư không? Trong trường hợp này có được áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 156 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hay không?

Tuy nhiên, vấn đề thẩm quyền không phải là điều đáng lưu ý duy nhất trong dự thảo của Cục Quản lý Dược.

Mang tính áp đặt

Điều 6 Dự thảo quy định về điều kiện đối với các Bên trong chuyển giao công nghệ, theo đó tùy theo loại thuốc mà Bên chuyên giao và Bên nhận chuyển giao phải đáp ứng những điều kiện nhất định.

Theo VCCI, cần phân tách hai hoạt động trong hoạt động chuyển giao công nghệ trong sản xuất thuốc, đó là: (i) Hoạt động chuyển giao công nghệ trong sản xuất thuốc giữa các chủ thể trong giao dịch; ii) Hoạt động sản xuất thuốc dựa trên công nghệ nhận chuyển giao của Bên nhận chuyển giao.

Trong đó, đối với loại hoạt động thứ nhất thì việc áp đặt điều kiện đối với các chủ thể trong giao dịch như trong Dự thảo là chưa thật hợp lý.  "Vì “chuyển giao công nghệ” thực chất là giao dịch dân sự theo thỏa thuận giữa các bên. Nhà nước không nên và không thể đặt các điều kiện cho một giao dịch dựa trên tự do ý chí như vậy", VCCI bày tỏ quan điểm.

Việc áp đặt điều kiện này cũng không đạt được mục tiêu quản lý nào cụ thể. Hiện tại, các quy định trong pháp luật hiện hành đã có các ràng buộc đối với chủ thể thực kiện sản xuất thuốc. Vì vậy,  việc quy định thêm các điều kiện đối với các chủ thể trong chuyển giao công nghệ là không cần thiết.

Trong khi đó, Luật Chuyển giao công nghệ không đặt ra các điều kiện đối với các bên trong chuyển giao công nghệ mà quản lý chỉ theo đối tượng chuyển giao (công nghệ). Cụ thể là phân chia các công nghệ thành các nhóm khuyến khích chuyển giao, nhóm hạn chế chuyển giao, nhóm cấm chuyển giao. Dự thảo quy định về điều kiện của các bên chuyển giao là chưa tương thích với tinh thần của Luật Chuyển giao công nghệ.

Đặc biệt, theo VCCI, quy định như vậy là chưa khuyến khích, thậm chí cản trở việc chuyển giao công nghệ cho Việt Nam. Việc giới hạn về điều kiện đối với Bên nhận chuyển giao, trong một số trường hợp sẽ là bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam khi muốn nhận chuyển giao các công nghệ tiên tiến của nước ngoài. Còn đối với các công nghệ hạn chế chuyển giao thì đã có cơ chế kiểm soát để hạn chế chuyển giao theo Luật chuyển giao công nghệ.

Cũng liên quan đến vấn đề này, Điều 9 Dự thảo quy định về việc đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, quy định này không có điểm đặc thù nào về chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực sản xuất thuốc cả, trong khi Nghị định 133/2008/NĐ-CP và Nghị định 103/2011/NĐ-CP đã quy định khá rõ về trình tự, thủ tục về đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ nói chung rồi. Do đó, Dự thảo quy định về thủ tục này là không cần thiết.

Hơn nữa, dưới góc độ tính minh bạch thì trình tự, thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ quy định tại Điều 9 là chưa rõ, ví dụ không rõ kết thúc của quy trình này là như thế nào. Cơ quan nhà nước có cấp Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng không? Hay là doanh nghiệp chỉ cần gửi hồ sơ đăng ký và cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi nhận là kết thúc?

Vì vậy, để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, VCCI đề nghị Ban soạn thảo bỏ quy định tại Điều 9 và liên quan đến vấn đề đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ, đề nghị dẫn chiếu tới Nghị định 133/2008/NĐ-CP, Nghị định 103/2011/NĐ-CP.

Thành Đạt