Bản Để In

Vẫn "chụp giật lẫn nhau", làm thuê cho nước ngoài

(Chinhphu.vn) – Muốn phát triển, các doanh nghiệp logistics, doanh nghiệp vận tải biển phải liên kết, đứng cùng chiến tuyến với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu…

10/16/2015 03:17
Việt Nam vẫn đang thiếu những đội tàu tầm cỡ quốc tế. Ảnh: VGP/Nam Đàn

Theo ông Trần Tuấn Anh, Thứ trưởng Bộ Công Thương, trong sự phát triển mạnh mẽ của xuất nhập khẩu, logistics trở thành ngành dịch vụ quan trọng của hoạt động thương mại quốc tế. Tuy nhiên những năm qua, chi phí hoạt động logistics của Việt Nam vẫn chiếm đến 20 – 25% GDP cả nước, gây lãng phí nhiều nguồn lực trong nước.

“Sự cạnh tranh về giá, hoạt động manh mún, chụp giật lẫn nhau, làm thuê cho các công ty nước ngoài ngay trên sân nhà vẫn là tình trạng chung của các nhà cung cấp dịch vụ logistics Việt Nam”, Thứ trưởng Trần Tuấn Anh phát biểu tại Diễn đàn Logistics lần thứ 3 do Bộ Công Thương, Hiệp hội doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) và Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức ngày 16/10 tại TP. Hồ Chí Minh.

Cũng theo Thứ trưởng, hiện các địa phương đang thiếu trung tâm giao nhận hàng hóa và dịch vụ cung cấp chuyên dụng. Thị phần và thực trạng các nhà cung cấp dịch vụ logistics Việt Nam còn rất khiêm tốn và ít ỏi, trong khi thị trường này đang nằm trong tay các công ty nước ngoài. 

Một số doanh nghiệp trong nước đã tiến hành các dịch vụ logistics bên thứ 3 nhưng sự “bứt phá” này vẫn chưa bền vững, thiếu chuyên nghiệp. Cùng với đó, một số doanh nghiệp Nhà nước có vốn và cơ sở vật chất khá lớn vẫn chưa chịu đột phá, tiên phong trong lĩnh vực logistics.

Ông Đỗ Xuân Quang, Chủ tịch VLA cho biết chi phí logistics ở các nước phát triển chỉ chiếm 7 – 10% GDP, còn ở các nước đang phát triển chiếm 12 – 25%, thậm chí trên 30% GDP.

Hiện Việt Nam có khoảng 1.300 doanh nghiệp dịch vụ logistics, chủ yếu làm nhiệm vụ giao nhận, vận tải, kho bãi, cảng biển, bốc xếp, phân phối, đại lý, thủ tục hải quan, các dịch vụ logistics tích hợp…

Thế nhưng chiếm đến 72% trong số này là những doanh nghiệp vừa và nhỏ (quy mô vốn từ 4 – 6 tỷ đồng), chỉ có 5 – 7% nguồn nhân lực, được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, còn lại là do doanh nghiệp tự đào tạo, kèm cặp rèn tay nghề.

Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hoa Sen cho rằng, hiện nay bên cạnh những cảng đang quá tải nhưng cũng có nhiều cảng chưa khai thác hết tiềm năng.

Đơn cử, Tập đoàn Hoa Sen đặt nhà máy tại Khu công nghiệp Phú Mỹ (Bà Rịa Vũng Tàu, có cảng tổng hợp Thị Vải, Tân cảng Cái Mép, cảng Phú Mỹ…) nhưng do rất ít các hãng tàu chở container chạy qua đây nên Hoa Sen buộc phải vận chuyển hàng hóa về cảng Cát Lái (TP. Hồ Chí Minh), khiến chi phí vận chuyển nội địa từ 1,7 triệu đồng/cont (loại 24 tấn) tăng lên thành 4,25 triệu đồng/cont (24 tấn).

Đó là chưa kể do tình trạng kẹt xe nên thời gian lưu bãi lâu hơn, đội chi phí kho bãi với mức 200.000 đồng/ngày/cont. Vào mùa cao điểm, doanh nghiệp còn chịu nhiều loại phí vận chuyển quốc tế như phí bình ổn, phí kẹt cầu cảng, phụ phí xăng dầu, phụ phí biến động giá nhiên liệu, phụ phí biến động tỷ giá ngoại tệ, phụ phí mất cân đối vỏ container…

“Sự bất hợp lý đó đã khiến doanh nghiệp phải vận chuyển hàng hóa đến các khu vực cảng ở xa để xuất hàng, làm tăng chi phí vận chuyển, giảm sức cạnh tranh và gây kẹt xe nghiêm trọng. Cùng với đó, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, tải trọng cầu và tải trọng đường không khớp với nhau, gây khó cho vận chuyển hàng hóa, nhất là tại tuyến đường ra vào cảng.

Đội tàu mang quốc tịch Việt Nam lên đến hàng nghìn chiếc nhưng chủ yếu vẫn là tàu rời tổng hợp, ít tàu chuyên dụng và tàu container, dẫn đến hoạt động của tàu container Việt Nam chỉ loanh quanh khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc mà chưa thể xâm nhập các khu vực xa hơn, thậm chí nếu muốn cũng phải phụ thuộc vào cước phí và lịch trình các hãng tàu nước ngoài”, đại diện Tập đoàn Hoa Sen cho hay.

Phải cùng chiến tuyến  

Ngày 3/7/2015, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 1012/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics trên địa bàn cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với mục tiêu phát triển mạng lưới trung tâm logistics, bảo đảm đáp ứng tốt nhu cầu của sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nước và xuất nhập khẩu.

Thứ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh nhấn mạnh, việc Việt Nam tham gia hàng loạt hiệp định Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới là cơ hội để phát triển xuất nhập khẩu và dịch vụ logistics. Muốn vậy, các doanh nghiệp logistics, doanh nghiệp vận tải biển phải liên kết, đứng cùng chiến tuyến với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, nỗ lực tư vấn, cung cấp giải pháp tối ưu, tin cậy, đảm bảo chuỗi cung ứng hiệu quả, nâng cáo tính cạnh tranh hàng hóa, dịch vụ Việt Nam. Đây cũng chính là bước chuẩn bị quan trọng để củng cố và gia tăng thị phần vận tải biển, logistics đối với hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam khi thực hiện các hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương sắp tới cũng như việc mở rộng thị trường này theo cam kết của WTO.

Đề cập đến giải pháp phát triển trong lĩnh vực này, ông Đỗ Xuân Quang kiến nghị Nhà nước cần sớm ban hành Luật Logistics, thành lập Ủy ban phối hợp về logistics quốc gia Việt Nam, đẩy mạnh đầu tư, tạo đột phá trong kết cấu hạ tầng logistics, phát triển thương mại điện tử, hệ thống phân phối bán lẻ đô thị, phổ biến ngành học logistics tại các trường đại học, cao đẳng, đẩy mạnh hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A), khuyến khích phát triển mạng lưới ngoài nước, đa phương thức, khuyến khích chủ hàng thuê ngoài logistics như Trung Quốc vẫn làm. 

Cho rằng việc định vị logistics trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam còn chưa rõ, chưa có chính sách phát triển, Tiến sĩ Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban Kinh tế Quốc hội đề nghị Nhà nước cần định vị lại logistics trong cơ cấu nền kinh tế, hướng tới thị trường khu vực TPP. Kèm theo đó, phải gắn quy hoạch phát triển logistics với quy hoạch cảng biển, khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp; xây dựng chương trình quốc gia phát triển logistics; thực hiện mô hình đối tác công tư (PPP) nhằm khuyến khích đầu tư tư nhân hạ tầng cho phát triển dịch vụ logistics. 

Ông Lê Phước Vũ cho rằng, Nhà nước cần có chính sách vận hành hệ thống cảng một cách hợp lý hơn, kiểm soát việc thu cước tàu và phụ phí. Bên cạnh đó, Việt Nam cần có thêm nhiều hãng tàu trọng tải lớn tham gia vận chuyển hàng quốc tế để đối trọng với các hãng tàu nước ngoài.

Nam Đàn