(Chinhphu.vn) –  Bộ KHĐT đã chỉ rõ những điểm được và chưa được về từng chỉ số mà Chính phủ đặt ra yêu cầu cải cách tại Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thủ tục kiểm tra formaldehyt với sản phẩm dệt may được đánh giá là đang gây nhiều khó khăn cho DN-Ảnh minh họa
Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa gửi Báo cáo này tới Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các địa phương hôm nay, ngày 28/12/2015.

Cụ thể, về cải cách toàn diện các quy định về điều kiện kinh doanh, trên cơ sở kết quả rà soát và phân loại các điều kiện kinh doanh, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 59/NQ-CP (ngày 7/8/2015) về triển khai thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư. Một số Bộ như Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khai thực hiện Nghị quyết 59, nhưng cho đến nay, chưa có kết quả rõ ràng.

“Vì vậy, có thể nói việc thực hiện cải cách các quy định về điều kiện kinh doanh chưa có cải thiện đáng kể”, báo cáo viết.

Tương tự như vậy, thủ tục hành chính kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, cách thức và công nghệ quản lý về cơ bản chưa thay đổi, chưa đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết. Mặc dù, ngày 17/11/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2026/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. Đề án xác định Danh mục 87 văn bản pháp luật về kiểm tra chuyên ngành cần sửa đổi, bổ sung, thuộc lĩnh vực quản lý của 13 Bộ.

Nghị quyết 19 yêu cầu 10 Bộ rà soát, đánh giá, sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, phù hợp với thông lệ quốc tế; đồng thời phải chuyển mạnh sau hậu kiểm. Tuy vậy, chỉ có một số Bộ chủ động triển khai thực hiện, gồm các Bộ: Tài chính; Giao thông vận tải;  Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Các Bộ còn lại về cơ bản chưa thực hiện.

Trong đó, Bộ Công thương có số văn bản được nêu nhiều nhất cần sửa đổi, bổ sung. Tuy nhiên, hầu hết các văn bản sửa đổi chưa được ban hành, ngoại trừ Thông tư số 37/2015/TT-BCT ngày 30/10/2015 (có hiệu lực từ 15/12/2015) thay thế Thông tư số 32/2009/TT-BCT về kiểm tra hàm lượng Formaldehyt và amin thơm trên các sản phẩm dệt may.

Thế nhưng, "điều đáng nói là Thông tư số 37/2015/TT-BCT đã không căn cứ vào Nghị quyết 19, không giải quyết được các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, không đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết”, Báo cáo của Bộ KHDDT khẳng định, dù những vướng mắc của Thông tư 32 ảnh hưởng đến thời gian và chi phí của doanh nghiệp, và đã được các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp phản ánh nhiều lần, nhiều năm.

Tương tự là Bộ Khoa học và Công nghệ với nhiệm vụ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 89/2006/NĐ-CP về ghi nhãn hàng hóa; Bộ Giao thông vận tải với nhiệm vụ thực hiện giải pháp kiểm soát việc thu phụ phí của các hãng tàu; Bộ Y tế với nhiệm vụ sửa đổi, bổ sung Thông tư số 19/2012/TT-BYT về thủ tục công bố hợp quy và công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm.

Đặc biệt, Bộ KHĐT cho biết có những vướng mắc, bất cập của chính sách, pháp luật và trong tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đã được doanh nghiệp phản ánh, kiến nghị nhiều lần, nhiều năm, mà vẫn không được giải quyết. Điều này khiến doanh nghiệp nản lòng, không muốn đóng góp; gây bức xúc không đáng có đối với chủ sở hữu, người quản lý doanh nghiệp. Ví dụ được Báo cáo nhắc tới những vướng mắc về kiểm tra hàm lượng Formaldehyt trên các sản phẩm dệt may theo quy định của Bộ Công Thương.

Về cải cách hành chính thuế, Bộ Tài chính, đặc biệt là Tổng cục Thuế đã chủ động thực hiện nhiều giải pháp về cải cách thủ tục hành chính thuế, đẩy nhanh tiến độ triển khai dịch vụ thuế điện tử, về cơ bản đã đạt mục tiêu đề ra. Theo Báo cáo Môi trường kinh doanh năm nay, thời gian nộp thuế của nước ta đã được ghi nhận giảm 40 giờ và chỉ số nộp thuế cải thiện 4 bậc. Nhìn chung, hầu hết doanh nghiệp đánh giá cao những nỗ lực cải cách của cơ quan thuế về kê khai và nộp thuế điện tử. Tính đến 1/12/2015, đã có 98,95% doanh nghiệp thực hiện khai thuế điện tử; 90,22% doanh nghiệp đăng ký nộp thuế điện tử.

Bên cạnh những kết quả nêu trên, vẫn còn một số vướng mắc về chính sách và thủ tục hành chính thuế đang gây khó khăn cho doanh nghiệp cũng như cơ quan thuế như chậm thực hiện quyết toán thuế để giải quyết giải thể doanh nghiệp; chính sách thay đổi liên tục, doanh nghiệp không kịp cập nhật; tình trạng thông báo thuế sai vẫn khá phổ biến do lỗi hệ thống phần mềm; thái độ của cán bộ ngành thuế.

Về Nộp bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam là một trong số các cơ quan Trung ương tích cực triển khai Nghị quyết 19. Theo ghi nhận của Báo cáo Môi trường kinh doanh năm nay, thời gian nộp bảo hiểm xã hội của nước ta đã giảm được 62 giờ. Trên thực tế, vẫn còn một số vướng mắc về thủ tục hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội cần sớm được cải thiện như cơ chế để người lao động theo dõi, giám sát việc đóng bảo hiểm xã hội; ứng dụng công nghệ thông tin trong khai báo, nộp hồ sơ bảo hiểm xã hội.

Về tiếp cận điện năng, thực hiện Nghị quyết 19, Tập đoàn điện lực Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp và được Ngân hàng thế giới ghi nhận giảm 56 ngày, từ 115 ngày xuống còn 59 ngày, nhờ vậy chỉ số tiếp cận điện năng của nước ta tăng 22 bậc. Cải cách của ngành điện cũng được ghi nhận trong danh sách 19 nền kinh tế có cải thiện hiệu quả về quy trình tiếp cận điện năng.

Tuy vậy, thứ hạng chỉ số Tiếp cận điện năng của nước ta vẫn ở nửa dưới của bảng xếp hạng (108/189 nền kinh tế) và cần tiếp tục cải thiện.

Về chuyển nhượng và đăng ký sở hữu tài sản, Nghị quyết 19 đặt mục tiêu rút ngắn thời gian đăng ký sở hữu tài sản xuống còn 14 ngày (theo đánh giá của Ngân hàng thế giới là 57 ngày). Khảo sát mới đây ở một số địa phương cho thấy thời gian chuyển nhượng và đăng ký sở hữu tài sản chưa có thay đổi so với trước. Ngoài ra, qua khảo sát cho thấy còn nhiều bất cập như: Bất hợp lý trong quy định về Hợp đồng chuyển nhượng tài sản (Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT); trong luân chuyển hồ sơ của người sử dụng đất khi thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai (Thông tư liên tịch số 30/2005/TTLT/BTC-BTNM); và trong thủ tục hoàn công, nghiệm thu chất lượng công trình.

Về Cấp phép xây dựng, Nghị quyết 19 đặt mục tiêu giảm thời gian cấp phép xây dựng xuống còn 77 ngày. Năm nay, Ngân hàng thế giới đánh giá thời gian thực hiện thủ tục cấp phép xây dựng của nước ta là 166 ngày (tăng hơn so với năm trước là 52 ngày).

Theo phản ánh của một số địa phương, một số văn bản chính sách vừa ban hành mới đây như Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 về Quản lý dự án đầu tư xây dựng chưa theo tinh thần cải cách của Nghị quyết 19, do đó đang làm tăng thêm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp và gây khó khăn cho cơ quan cấp phép.

Về Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại, thực hiện Nghị quyết 19, một số nội dung của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vừa được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015 đã được thiết kế theo hướng cải thiện quy trình, thủ tục tố tụng, đáp ứng các yêu cầu về thời gian, thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp, nhờ đó rút ngắn thời gian Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại.

Cụ thể là: (i) quy định “bộ phận tiếp nhận đơn” độc lập tại các tòa; (ii) thời hạn liên quan đến thủ tục hành chính tư pháp được rút ngắn theo tinh thần của Nghị quyết 19; (iii) quy định rõ ràng hơn điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong việc giải quyết vụ án; và (iv) bổ sung thêm trách nhiệm của Tòa án nếu Tòa chậm hay không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Về Giải quyết phá sản doanh nghiệp, Luật Phá sản 2014 là một đạo luật tiến bộ, với nhiều nội dung đổi mới, đã có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2015. Thực hiện Nghị quyết 19 và để thúc đẩy thực thi Luật Phá sản 2014, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2015/TT-CA ngày 08/10/2015 quy định về Quy chế làm việc của các Tổ thẩm phán trong quá trình giải quyết phá sản; tiếp đó, ban hành Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 15/10/2015 yêu cầu tòa án các cấp phải khẩn trương triển khai Thông tư này. Đồng thời, trên website của Tòa án nhân dân tối cao đã mở chuyên mục về Thông báo tuyên bố phá sản cho các tòa án trên toàn quốc. Điều này thể hiện mức độ cải thiện rõ ràng của ngành tư pháp trong việc công khai, minh bạch để người dân và doanh nghiệp có thể tiếp cận thông tin dễ dàng, thuận lợi hơn.

Thành Đạt