(Chinhphu.vn) – Hiện, thời gian trung bình để giải quyết một vụ tranh chấp hợp đồng thương mại tại Việt Nam lên tới 400 ngày, theo tính toán của Ngân hàng Thế giới (WB).

Ảnh minh họa
Giải quyết tranh chấp hợp đồng là một trong 10 chỉ số mà WB dùng để “chấm điểm” môi trường kinh doanh của các quốc gia. Tại Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Chính phủ đã đặt mục tiêu đến hết năm 2016, cần rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp thương mại xuống còn tối đa 200 ngày.

Điểm khá đặc biệt của thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng là liên quan tới cả cơ quan tư pháp (Toà án) và cơ quan hành pháp (cơ quan thi hành án). Theo Bộ KHĐT, cho đến nay, chưa có thông tin cụ thể về mức độ cải thiện đối với chỉ số này. Tuy nhiên, nhìn chung thời gian chưa đạt mục tiêu đề ra theo Nghị quyết 19.

Trong báo cáo Doing Business năm 2016 vừa được công bố, WB cũng cho biết chỉ số này của Việt Nam không thay đổi, vẫn ở vị trí 74 trong tổng số 189 nền kinh tế được khảo sát. Con số trung bình ở khu vực Đông Á-Thái Bình Dương là 554 ngày.

Theo Bộ KHĐT, có nhiều nguyên nhân khiến dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp, từ quy trình tố tụng cho tới giai đoạn thực thi phán quyết của tòa án.

Nhiều nơi tự đặt ra yêu cầu

Về quy trình tố tụng và thời gian giải quyết tranh chấp hợp đồng tại các tòa án, nhìn chung, phần lớn các tòa án vẫn áp dụng phương thức quản lý theo sổ sách,  chưa  ứng  dụng  CNTT  trong  quy  trình  tố  tụng  giải  quyết  tranh  chấp  hợp đồng. Do vậy, việc theo dõi quản lý án của tòa án cấp trên với tòa án cấp dưới vẫn chủ yếu theo cách truyền thống là báo cáo tổng hợp, báo cáo thống kê bằng văn bản. 

Cho đến nay,  mới chỉ có một vài tòa án áp dụng CNTT trong quản lý nhận đơn và  thụ lý vụ án  như  Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Thừa Thiên Huế. Trong đó, tòa án Hải Phòng là đơn vị áp dụng hệ thống CNTT toàn diện hơn, từ  thụ lý đơn, thụ lý vụ án,  phân án ngẫu nhiên tới quản lý tiến trình giải quyết vụ án , nhờ đó  kịp thời đôn đốc  đảm bảo thời hiệu giải quyết vụ án.

Hơn nữa, một số  tòa  án  còn đưa  ra  thêm  yêu  cầu  so với  quy  định, gây  khó khăn  cho người khởi kiện. Ví dụ, có tòa án  yêu cầu nguyên đơn phải đến cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc chính quyền cơ sở nơi bị đơn cư trú xác nhận là bị đơn hiện vẫn đang  cư trú  tại  địa chỉ  được ghi trong đơn khởi  kiện. Đây  là yêu  cầu không  cótrong Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành.

Trong khi đó, theo luật định, thời gian từ khi nhận đơn đến  khi hết thời hạn kháng nghị đối với vụ án đơn giản cũng mất từ sáu đến bảy tháng, vụ án phức tạp phải mất từ bảy  đến  tám  tháng  (chưa  tính  trường  hợp  phải  sửa  đổi,  bổ  sung  đơn  khởi  kiện nhiều lần, hoãn phiên tòa hai lần trở lên, phải ủy thác tư pháp….) .

“Ở nước ta, Viện Kiểm sát tham gia quá nhiều vào quá trình tố tụng, dẫn tới thêm thủ tục và kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp. Đây là điểm khác biệt so với tố tụng của nhiều nước, ở đó Viện công tố không tham gia vào quan hệ tư”, Bộ KHĐT nhận định trong báo cáo mới đây về tình hình triển khai Nghị quyết 19.

Thi hành án mất tới 8 tháng

Việc thi hành án do cơ quan thi hành án tổ chức thực hiện khi đương sự có yêu cầu. Trong số các tác thủ tục do cơ quan thi hành án thực hiện, theo Bộ KHĐT, giai đoạn xác minh tài sản và bán đấu giá là mất nhiều thời gian nhất, vì có trường hợp sau nhiều lần giảm  giá mới bán được, hoặc có trường hợp không bán được.

Quy định về niêm yết trước khi bán đấu giá gây khó khăn cho cơ quan thi hành án; quy định về giá thẩm định được lấy làm giá khởi điểm để bán đấu giá tạo cơ hội cho đương sự lợi dụng kéo dài việc bán đấu giá để tiếp tục được sử dụng tài sản bán đấu giá. Theo báo cáo của một số cục và chi cục thi hành án, thời gian thi hành xong vụ việc mất khoảng 6 đến 8 tháng.

Trong giải quyết  tranh chấp hợp đồng, Thành phố Hồ Chí Minh đã thí điểm áp dụng thừa phát lại. Hoạt động của thừa phát lại đã hỗ trợ tốt cho tòa án và cơ quan thi hành án trong việc tống đạt văn bản, giấy tờ, trong tổ chức thi hành án. Tuy nhiên, do mới áp dụng thí điểm, còn thiếu công cụ pháp luật hỗ trợ nên vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Những bất cập nêu trên dẫn tới thời gian thi hành phán quyết của tòa án kéo dài, và do vậy kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp hợp đồng.

Khi bị đơn không hợp tác

Thời gian giải  quyết  tranh  chấp  hợp  đồng  kéo  dài  còn do  một số nguyên nhân khác như khó khăn trong xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ; phía bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không hợp tác với tòa án.

Khi bị đơn rời khỏi địa chỉ đăng ký, địa chỉ giao dịch trước đấy không thông báo, dẫn tới tòa án mất nhiều thời gian xác minh địa chỉ bị đơn. Trong khi đó, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rời khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh, địa chỉ giao dịch từ trước khi nguyên đơn khởi kiện, dù các đương sự này dời địa chỉ không thông báo cho đối tác, cho cơ quan đăng ký kinh doanh biết, không được coi là dấu địa chỉ, không được xử vắng mặt.

Nếu nguyên đơn khởi kiện không cung cấp được nơi cư trú của bị đơn, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại thời điểm khởi kiện, không chứng minh được đương sự cố tình dấu địa chỉ thì vụ án bị đình chỉ, không giải quyết. Do đó, nếu vụ án có nhiều người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan mà họ không hợp tác với tòa án thì thời gian giải quyết tranh chấp hợp đồng sẽ bị kéo dài.

Nếu có căn cứ xác định bị đơn,  người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cố tình dấu địa chỉ, không hợp tác thì vẫn phải tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai cho mỗi thủ tục thì mới có thể xử vắng mặt. Thủ tục tống đạt theo quy định  Bộ luật Tố tụng  dân sự gồm nhiều bước, tốn nhiều thời gian như  triệu tập đương sự để lấy lời khai, hòa giải, triệu tập đến phiên tòa, mỗi lần như vậy phải niêm yết giấy triệu tập nhiều nơi, thời gian niêm yết văn bản tố tụng là 15 ngày.

Bộ KHĐT đánh giá, việc tống đạt để được coi hợp lệ là rất khó xác định trên thực tế, vì có thủ tục  luật tố tụng quy định chưa rõ và cũng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể. Do đó,  để  không  có  nguy  cơ  bị  hủy  án  vì  lí  do  tống  đạt,  thẩm  phán  thường  chọn phương án hoãn phiên tòa khi đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai đương sự vẫn vắng mặt, tòa án chưa biết lí do hoặc đương sự có nêu ra lý do nhưng chưa kiểm tra được.

Đối với  những vụ án có đương sự, tài sản ở  nước ngoài phải ủy thác tư pháp.  Hiện  nay,  việc  ủy  thác  phần  lớn  là  không  hiệu  quả,  rất  nhiều  vụ,  tòa  án không nhận được thông tin phản hồi; một số lượng  rất ít  trong số các vụ đã ủy thác, tòa án nhận được kết quả, nhưng thường kéo dài rất lâu.

Thành Đạt