(Chinhphu.vn) - Công ty của ông Mai Đình Đình (TP. Hà Nội) có ngành nghề chính là sản xuất đồ nội thất và xây dựng. Công ty không phải tổ chức tín dụng, vừa qua có cho doanh nghiệp khác vay và nhận được tiền lãi, vậy khoản tiền lãi này công ty ông có phải xuất hóa đơn không?

Trường hợp nếu công ty ông Đình thiếu vốn điều lệ 5 tỷ đồng và có vay hai doanh nghiệp khác (mỗi doanh nghiệp 3 tỷ đồng, lãi suất tương ứng là 10%, 9% và giả sử lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố là 8%). Ông Đình muốn biết, công ty ông sẽ loại phần lãi của 1 tỷ đồng tương ứng với phần vốn còn thiếu, vậy mức lãi suất là bao nhiêu?

Về vấn đề này, Cục thuế TP. Hà Nội có ý kiến như sau:

Về khoản lãi tiền vay

Căn cứ điểm b, khoản 8, Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế GTGT và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế GTGT, quy định về các trường hợp không chịu thuế GTGT: "Hoạt động cho vay riêng lẻ, không phải hoạt động kinh doanh, cung ứng thường xuyên của người nộp thuế không phải là tổ chức tín dụng".

Căn cứ điểm 2.1, khoản 2 Phụ lục 04 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, quy định:

"2. Trong một số trường hợp việc sử dụng và ghi hóa đơn, chứng từ được thực hiện cụ thể như sau:

2.1. Tổ chức nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế bán hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, đối tượng được miễn thuế GTGT thì sử dụng hóa đơn GTGT, trên hóa đơn GTGT chỉ ghi dòng giá bán là giá thanh toán, dòng thuế suất, số thuế GTGT không ghi và gạch bỏ.".

Căn cứ Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014, Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính:

Khoản 1 Điều 4 sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2, Điều 6 Thông tư số 119/2014/TT-BTC và Điều 1 Thông tư số 151/2014/TT-BTC), như sau:

“1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.

c) Khoản chi nếu có hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng...”.

Về chi trả lãi tiền vay

Căn cứ Điểm 2.18, Khoản 2 Điều 4 sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2, Điều 6 Thông tư số 119/2014/TT-BTC và Điều 1 Thông tư số 151/2014/TT-BTC):

"2. Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:

2.18. Chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ (đối với doanh nghiệp tư nhân là vốn đầu tư) đã đăng ký còn thiếu theo tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp kể cả trường hợp doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh. Chi trả lãi tiền vay trong quá trình đầu tư đã được ghi nhận vào giá trị của tài sản, giá trị công trình đầu tư...

Chi trả lãi tiền vay tương ứng với vốn điều lệ còn thiếu theo tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế được xác định như sau:...

Trường hợp số tiền vay lớn hơn số vốn điều lệ còn thiếu theo tiến độ góp vốn:

Nếu doanh nghiệp phát sinh nhiều khoản vay thì khoản chi trả lãi tiền vay không được trừ bằng tỷ lệ (%) giữa vốn điều lệ còn thiếu trên tổng số tiền vay nhân (x) tổng số lãi vay...".

Căn cứ quy định nêu trên, Cục thuế TP. Hà Nội hướng dẫn ông Đình như sau:

- Về khoản lãi tiền vay: Trường hợp Công ty ông không phải là tổ chức tín dụng, cho các doanh nghiệp khác vay tiền và nhận được khoản lãi tiền vay thì khoản lãi tiền vay này thuộc trường hợp không chịu thuế GTGT. Trường hợp Công ty nộp thuế theo phương pháp khấu trừ, khi nhận khoản lãi tiền vay này, Công ty sử dụng hóa đơn GTGT, trên hóa đơn GTGT chỉ ghi dòng giá bán là giá thanh toán, dòng thuế suất, số thuế GTGT không ghi và gạch bỏ.

- Về chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ còn thiếu để xác định chi phí được trừ khi tính thuế TNDN: đề nghị Công ty của ông nghiên cứu và thực hiện theo các quy định tại Khoản 1 và Điểm 2.18 Khoản 2 Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC nêu trên.

Thanh Thủy